Một số vấn đề trao đổi về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong Bộ luật hình sự năm 2015

     BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 được xác định là sửa đổi cơ bản, toàn diện BLHS năm 1999. Có rất nhiều nội dung mới mà BLHS năm 1999 chưa quy định. Ở phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu một số vấn đề cơ bản và một số vấn đề cần trao đổi về TNHS đối với pháp nhân thương mại được quy định trong BLHS năm 2015. Đây là một nội dung mới, quan trọng, làm thay đổi cơ bản chính sách hình sự truyền thống, bên cạnh nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, luật hình sự Việt Nam đã đặt ra TNHS đối với pháp nhân thương mại trong một số tội theo quy định của Bộ luật hình sự. Điều này, đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về xử lý tội phạm trong tình hình hiện nay, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới.

     1. Sự cần thiết quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong bộ luật hình sự năm 2015

     BLHS năm 2015 lần đầu tiên quy định chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại tại Chương XI, gồm 16 điều (từ điều 74 - 89) và trong một số điều khoản cụ thể khác của Bộ luật (các điều 2, 3, 8, 33, 46). Đây là điểm đổi mới nổi bật, có tính đột phá trong chính sách hình sự, thay đổi nhận thức truyền thống về vấn đề tội phạm và hình phạt, khắc phục những bất cập, hạn chế trong xử lý các vi phạm pháp luật của pháp nhân, nhất là những vi phạm trong các lĩnh vực kinh tế và môi trường, bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của pháp nhân gây ra.

     Lý do bổ sung chế định TNHS của pháp nhân trong BLHS:

     Thứ nhất, giải quyết mặt trái của kinh tế thị trường như các hành vi vi phạm quy định về độc quyền, buôn lậu, xâm phạm sở hữu trí tuệ, gian lận thương mại, gây ô nhiễm môi trường..., gây những hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội.

     Thứ hai, các biện pháp hình sự xử lý pháp nhân có nhiều ưu điểm so với các biện pháp hành chính, dân sự, được tiến hành bởi các cơ quan tiến hành tố tụng mang tính chuyên nghiệp cao, với trình tự, thủ tục tư pháp chặt chẽ, minh bạch, sử dụng các chế tài mạnh mẽ, các biện pháp nghiệp vụ chuyên sâu mà trong xử lý hành chính, dân sự không có khi chứng minh các hành vi vi phạm và xác minh mức độ thiệt hại.

     Thứ ba, chế tài hình sự đủ nghiêm để ngăn chặn, xử lý tình hình vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng, phức tạp của pháp nhân, đảm bảo việc khắc phục thiệt hại, quyền của người bị hại do pháp nhân gây ra, không để lọt tội phạm.

     Thứ tư, qua thực tiễn xử lý các vụ việc điển hình trong thời gian qua cho thấy những khó khăn, vướng mắc khi xử lý vi phạm pháp luật của pháp nhân bằng biện pháp hành chính và dân sự.

     Thứ năm, cơ chế xử phạt vi phạm hành chính và bồi thường thiệt hại áp dụng đối với pháp nhân thương mại vi phạm tỏ ra bất cập, kém hiệu quả. Mặc dù xử phạt vi phạm hành chính có ưu điểm là nhanh, kịp thời nhưng lại thiếu tính chuyên nghiệp, minh bạch và không giải quyết được triệt để quyền lợi của người dân bị thiệt hại mà họ phải tự chứng minh thiệt hại để yêu cầu bồi thường. Hơn nữa, cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính không có đội ngũ cán bộ chuyên trách để điều tra, chứng minh vi phạm cũng như hậu quả của vi phạm.

     Thứ sáu, cá nhân bị truy cứu TNHS thường khó có đủ năng lực tài chính để bồi thường những thiệt hại lớn hoặc đặc biệt lớn, nếu chủ thể phạm tội là pháp nhân thì có khả năng tốt hơn trong việc thi hành các khoản bồi thường thiệt hại, sửa chữa, khắc phục hậu quả gây ra

     Thứ bảy, Việt Nam đã ký kết Công ước Liên Hiệp Quốc về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia (Công ước TOC).

     2. Khái niệm về pháp nhân thương mại và trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

     Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan (Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015).

     Để nắm rõ những quy định mới trong BLHS năm 2015 về TNHS đối với pháp nhân, chúng ta cần hiểu rõ về khái niệm của TNHS đối với pháp nhân.

     TNHS của pháp nhân trong khoa học pháp luật hình sự có thể hiểu là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân do luật hình sự quy định.

     Trách nhiệm hình sự của pháp nhân có thể hiểu là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân do luật hình sự quy định.

     TNHS của pháp nhân thương mại sẽ được áp dụng thông qua một trình tự thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định để đảm bảo tính khách quan, trung thực trong hoạt động tố tụng. TNHS của pháp nhân thương mại cũng phải được thể hiện rõ ràng trong bản án hay quyết định của Tòa án và một pháp nhận cũng chỉ bị coi là có tội khi bị kết án bằng bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Bản án là cơ sở pháp lý khẳng định một pháp nhân có tội hay không, quy định các hình thức TNHS mà pháp nhân thương mại phạm tội phải gánh chịu. Bản án hay quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật sẽ được đưa ra thi hành và có hiệu lực bắt buộc đối với các cơ quan nhà nước và cũng như TNHS đối với cá nhân, TNHS đối với pháp nhân sẽ được bảo đảm thi hành trên thực tế.

     3. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

     Theo quy định Điều 75 BLHS năm 2015, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu TNHS khi có đủ 4 điều kiện:

     Thứ nhất, hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại.

     Pháp nhân thương mại tham gia vào quan hệ pháp luật là chủ thể bình đẳng, độc lập với các chủ thể khác cho nên pháp nhân thương mại phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Hai dạng năng lực của pháp nhân thương mại phát sinh đồng thời và thường là kể từ thời điểm đăng ký hoạt động được cấp phép hoạt động, với các chức năng, nhiệm vụ được đăng ký;

     Mọi hoạt động của pháp nhân thương mại được tiến hành thông qua hành vi của những cá nhân - người đại diện hợp pháp của pháp nhân. Hành vi của những cá nhân này không tạo ra quyền và nghĩa vụ cho họ, mà nhân danh pháp nhân, tạo ra các quyền và nghĩa vụ cho pháp nhân thương mại.

     Thứ hai, hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;

     Theo quy định này, để truy cứu TNHS của pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội phải được phạm tội vì lợi ích của pháp nhân đó.

     Ví dụ: Không thực hiện đúng quy trình xử lý chất thải nhằm giảm chi phí cho pháp nhân là mang lại lợi ích cho pháp nhân thương mại.

     Thứ ba, hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

     Có thể thông qua những hình thức khác nhau như: Nghị quyết Hội đồng quản trị (trong công ty cổ phần), quyết định của Giám đốc, Tổng giám đốc hay những người được ủy quyền. Ở đây, quy định của BLHS bao gồm cả sự chấp thuận của pháp nhân thông qua những người có thẩm quyền cũng được coi là điều kiện để xem xét truy cứu TNHS của pháp nhân thương mại.

     Ví dụ: Ý kiến đồng ý của Giám đốc – người đại diện theo pháp luật của công ty trong bản đề xuất mua hàng hóa do các phòng ban của pháp nhân đề nghị (mà hàng hóa thuộc danh mục cấm của nhà nước, công ty không được phép mua bán) được coi là đã có sự chấp thuận của pháp nhân.

     Thứ tư, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của BLHS năm 2015.

     Thời hiệu truy cứu tương tự như đối với cá nhân phạm tội: 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng; 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng; 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

     Khoản 2 Điều 75 BLHS năm 2015: "2. Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân".

     Cùng với việc truy cứu TNHS của pháp nhân thương mại về một tội phạm cụ thể thì những cá nhân có liên quan đến việc thực hiện tội phạm của pháp nhân cũng có thể phải chịu TNHS về tội phạm đó.

     4. Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

     Xác định phạm vi các tội danh mà pháp nhân phạm tội phải chịu TNHS thuộc 2 nhóm Tội phạm kinh tế, Tội phạm về môi trường đây là những tội danh mà pháp nhân thường hay vi phạm (tính phổ biến), có mức độ nguy hiểm nhất định và dễ chứng minh trên thực tế. Ngoài hai nhóm tội phạm trên, Luật sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của BLHS năm 2015 đã mở rộng phạm vi chịu TNHS của pháp nhân thương mại đối với 02 tội danh, đó là Tội tài trợ khủng bố (Điều 300) và Tội rửa tiền (Điều 324. Trên tinh thần đó, Điều 76 của BLHS năm 2015 đã quy định 33 tội danh, trong đó, 22 tội thuộc Chương XVIII, 09 tội thuộc Chương XIX và 02 tội thuộc Chương XXI.

     5. Hình phạt áp dụng với pháp nhân thương mại phạm tội

     Điều 33 BLHS năm 2015 quy định Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội bao gồm:

     + Hình phạt chính: Phạt tiền; Đình chỉ hoạt động có thời hạn; Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

     + Hình phạt bổ sung: Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; Cấm huy động vốn; Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

     Lưu ý: Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

      6. Một số vấn đề cần trao đổi về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại trong Bộ luật Hình sự năm 2015

     Quy định của BLHS năm 2015 về việc áp dụng TNHS đối với pháp nhân thương mại cũng còn một số điều cần bàn thêm.

     Thứ nhất là, theo phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS năm 2015 thì việc tội phạm được phân loại thành 04 loại gồm: Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm; Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù; Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù; Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

     Tuy nhiên, theo BLHS thì chế tài xử lý đối với pháp nhân thương mại không có hình phạt tù. Vậy trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội bị áp dụng hình phạt thì dựa vào căn cứ nào để phân loại tội phạm trong trường hợp này đối với pháp nhân được phân loại là tội phạm gì (tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng). Vì vậy, tác giả cho rằng, cần phải quy định căn cứ để phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

     Thứ hai là, BLHS năm 2015 chỉ quy định TNHS đối với các nhóm tội xâm phạm trật tự quản lí kinh tế, tội phạm về môi trường và tội phạm về an toàn công cộng, còn đối với các nhóm tội phạm khác thì chưa đặt ra như: Nhóm các tội phạm về chức vụ (tội nhận hối lộ, tội đưa hối lộ...); tội phạm mua bán người... Thực tế cho thấy, những tội phạm này hoàn toàn có thể được thực hiện bởi các pháp nhân. Điều này cũng thể hiện sự thiếu tương thích của BLHS với yêu cầu của các công ước quốc tế về phòng chống tội phạm mà Việt Nam là thành viên như: Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Công ước chống tham nhũng..

     Thứ ba là, trong thực tiễn sẽ rất khó khăn để chứng minh đầy đủ các điều kiện quy định Điều 75 đưa ra 4 điều kiện để có thể truy cứu TNHS đối với pháp nhân.

     Ở đây có thể có sự quy định chưa rõ ràng giữa các điều kiện để pháp nhân thương mại có thể phải chịu TNHS về các hành vi đó, nên có thể sẽ gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi chứng minh minh về hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại.

     Việc bổ sung TNHS đối với pháp nhân là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc thắt chặt hành lang pháp lý trong thời kỳ kinh tế Việt Nam hội nhập như hiện nay. Hành vi phạm tội không chỉ do cá nhân mà pháp nhân cũng gây ra. Có những hành vi mà cả cá nhân và pháp nhân đều xâm phạm như: Tội rửa tiền, tội khủng bố, tội buôn lậu, tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ... Thậm chí, có tội chỉ do pháp nhân thực hiện, như tội phạm về môi trường. Truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại sẽ giúp nhân dân rất nhiều trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao khả năng tiếp cận công lý của người dân; bởi vì số tiền tạm ứng án phí để khởi kiện pháp nhân lớn (thậm chí rất lớn) và nhân dân gặp khó khăn trong việc chứng minh tội phạm của pháp nhân và càng khó khăn hơn khi phải chứng minh thiệt hại xảy ra. Tuy nhiên, việc truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại, thì các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sẽ cần phải làm rõ những vấn đề còn vướng mắc nêu trên. Có như vậy mới đảm bảo phán quyết của Tòa án đúng pháp luật, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của xã hội về cải cách tư pháp.

Đ.V.C

tcsnd5.edu.vn
Ảnh tuyển chọn