Yêu cầu nâng cao năng lực tư duy của giảng viên trong giai đoạn hiện nay

Chúng ta đang sống trong thời đại có quá nhiều biến động khó lường trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội cho đến khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Có những dự báo khi mới đưa ra được coi là táo bạo nhất cũng bị thực tiễn vượt qua một cách nhanh chóng cả về mặt thời gian, quy mô, hiệu quả và khả năng tác động.

Chúng ta đang sống trong thời đại có quá nhiều biến động khó lường trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội cho đến khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Có những dự báo khi mới đưa ra được coi là táo bạo nhất cũng bị thực tiễn vượt qua một cách nhanh chóng cả về mặt thời gian, quy mô, hiệu quả và khả năng tác động. Thậm chí, có những phát minh được coi là sự đột phá, nhưng chưa kịp ứng dụng thì đã có phát minh khác tiến bộ hơn thay thế. Do vậy, nó đặt ra cho người giảng viên, cần phải rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy, đặc biệt là tư duy lý luận, tư duy biện chứng để có thể đảm nhận vai trò trách nhiệm của mình trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Vấn đề cơ bản của triết học, nhất là triết học Mác - Lênin, như Ph. Ăngghen nói là “mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại”. Vì vậy, khái niệm tư duy là một trong những khái niệm trung tâm của triết học và được coi là năng lực vô cùng kỳ diệu của con người, là trình độ rất cao và cực kỳ phức tạp của sự phản ánh. Các sản phẩm của tư duy được tạo ra một cách gián tiếp thông qua trừu tượng hóa và khái quát hóa, thông qua sự phân tích và tổng hợp… là những sản phẩm phản ánh trình độ bản chất của khách thể. Nét đặc trưng của sự phản ánh ở trình độ ý thức, trình độ lý tính đó là sự phản ánh bao giờ cũng mang tính sáng tạo. Nhờ sức mạnh của tư duy biện chứng, sáng tạo mà con người tiến xa hơn trong việc cải tạo tự nhiên, xã hội. Sự nhận thức của con người không phải là hành động tức thời, làm một lần là xong. Trái lại, nhận thức là một quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ những cảm giác đến tri giác, biểu tượng, qua phán đoán suy lý rồi tiến đến xây dựng các khái niệm, phạm trù, các giả thuyết và rút ra quy luật. Nhờ các khái niệm, phạm trù, với tính cách là “công cụ của nhận thức”, như Lênin nói, mà con người ngày càng tiến sâu hơn vào bản chất của các sự vật, các quá trình và hiện thực khách quan. Đó cũng chính là quá trình con người đi tìm và phát hiện ra chân lý, cũng như bản thân chân lý là cụ thể, nó không bao giờ ngưng đọng, đứng yên, bởi vì đạt đến chân lý là một quá trình và bản thân chân lý cũng nằm trong quá trình.

Sự vận động và phát triển của thực tiễn không những quy định mà còn đòi hỏi phải có sự vận động, biến đổi và phát triển của tư duy. Tư duy đó vận động và biến đổi ra sao phụ thuộc vào năng lực của từng chủ thể nhận thức, tức là phụ thuộc vào từng con người đang tiến hành các hoạt động nhận thức.

Năng lực tư duy sáng tạo của người giảng viên trước hết thể hiện ở khả năng đúc rút kinh nghiệm, thu nhận, phản ánh, xử lý thông tin, để từ đó lựa chọn và khái quát tri thức lý luận phục vụ cho việc diễn giải, lập luận chứng minh làm rõ lý luận, đó là việc nêu lên các tình huống có vấn đề để kích thích tư duy cho người học - đây là phương pháp được sử dụng mang tính phổ biến trong quá trình dạy học hiện nay. Người giảng viên không chỉ dựa trên nhận thức cảm tính khi phân tích xử lý thông tin, mà đó là quá trình nhận thức lý tính, nhận thức bản chất sự vật, hiện tượng. Có một sự nhầm lẫn rất thường gặp ở một số người, đó là sự ngộ nhận rằng cảm tính là linh cảm, từ đó họ đồng nhất cảm tính với linh cảm trí tuệ, hay là trực giác trí tuệ. Thực ra đây là hai trình độ hoàn toàn khác biệt, không thể lấy nhận thức cảm tính thay cho linh cảm, trực giác. Không phải bao giờ và bất cứ ai cũng có thứ linh cảm hay trực giác này. Người giảng viên có những thời điểm sáng tạo, những tư duy đột phá hay những giờ giảng “thăng hoa” . . . là nhờ có thứ linh cảm trí tuệ. Đúng là ai cũng có nhận thức cảm tính, nhưng nếu chỉ dừng lại ở nhận thức cảm tính thì không thể đi sâu vào bản chất của sự vật và hiện tượng. Trực giác trí tuệ chỉ những người có năng lực tư duy lý luận ở trình độ khái quát cao mới có được. Muốn vậy, người giảng viên cần phải có quá trình tích lũy kinh nghiệm bằng sự khổ công học tập, “dùi mài kinh sử”, tìm tòi tích lũy tri thức nhiều năm, thậm chí suốt cả thời gian dài. Mặt khác, người giảng viên còn phải có linh cảm, trực giác, để sáng tạo, phát hiện vấn đề mới và giải quyết một cách triệt để thì mới nâng cao trình độ tri thức và nghiệp vụ sư phạm để thu hút người học trong quá trình dạy học.

Người giảng viên phải đạt đến trình độ tư duy bằng khái niệm, đó là khả năng ghi nhận và tái hiện các sự kiện, trên cơ sở đó tiến hành đối chiếu, phân tích để rút ra kết luận mới, làm cơ sở cho tư duy trừu tượng là điều kiện cho phép đi sâu tìm hiểu bản chất của các sự vật và hiện tượng. Nếu như không có trình độ tư duy bằng khái niệm thì cũng có nghĩa là khó có năng lực trừu tượng hóa vì tư duy bằng khái niệm là năng lực cho phép đi sâu vào bản chất của sự vật để phân định đúng sai, phát hiện ra mâu thuẫn, tìm ra động lực thúc đẩy việc nâng cao năng lực tư duy lý luận, tư duy trừu tượng. Do vậy, Người giảng viên cần phải thực hiện tốt các yêu cầu sau:

Một là, trong giảng dạy lý luận, người giảng viên còn phải nâng cao năng lực tư duy để tránh tư tưởng giáo điều. Muốn vậy, cần tránh hai khuynh hướng: một là, đơn giản hóa vấn đề, cắt xén lý luận theo chủ quan của mình; hai là, tiếp thu lý luận theo kiểu “tầm chương trích cú” hay “chủ nghĩa kinh viện” một cách máy móc, siêu hình. Điều này diễn ra ở những người chưa có một nền tảng tri thức vững chắc, chưa đạt đến một trình độ tư duy trừu tượng và khái quát hóa cao. Năng lực trừu tượng hóa không tách rời năng lực khái quát hóa. Người giảng viên khi đọc một cuốn sách, nghiên cứu một tình huống thực tiễn, tiếp thu một học thuyết mới… phải biết khái quát hóa, rút ra được cái gì là cốt lõi và bản chất nhất. Vì tri thức của nhân loại rất phong phú và đa dạng, mỗi người phải biết tiếp thu có chọn lọc, biết đi sâu tìm hiểu.

Vì vậy, việc rèn luyện, nâng cao và phát triển hoàn thiện năng lực tư duy để vươn tới năng lực tư duy lý luận, tư duy biện chứng là yêu cầu bắt buộc đối với người giảng viên trong điều kiện hiện nay.

Hai là, người giảng viên cần có tư duy lý luận, tư duy biện chứng để khắc phục tư duy máy móc, siêu hình và nhất là để nhận ra tác hại của khuynh hướng dùng ý chí chủ quan, bất chấp quy luật khách quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Loại tư duy này thường được đội lốt dưới hình thức học tập kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn… Nhưng thực ra là sao chép, cóp nhặt, lắp ghép…   để tạo ra sản phẩm mà không tính đến nét đặc thù và tính cá biệt của đối tượng dạy học.

Ba là, đ ể nâng cao năng lực tư duy lý luận, người giảng viên cần tránh quá nhấn mạnh đến vai trò của ý chí mà coi nhẹ mặt tri thức, trí tuệ, tư duy cần có. Bất kỳ làm việc gì cũng cần phải có ý chí, nếu thiếu ý chí thì không thể thành công. Tuy nhiên, ý chí đó được đặt trên một nền tảng chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, mà không được đặt trên một nền tảng tri thức khoa học, không có chỗ dựa đạo đức lành mạnh và vững chắc thì hậu quả xấu sẽ xảy ra. Ở thế kỷ XVII, nhà triết học Pháp là Đề - các - tơ đã nói: “Một khi mà ý chí lớn hơn lý trí, mạnh hơn trí tuệ thì đó là nguyên nhân đẻ ra những sai lầm”.

Để đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp giáo dục đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện hiện nay, người giảng viên cần rèn luyện và trau rồi khả năng tư duy lý luận, tư duy biện chứng. Muốn vậy, đòi hỏi mỗi giảng viên cần phải rèn luyện bồi dưỡng những phẩm chất tư duy một cách thường xuyên. Phải thấm nhuần tư tưởng được Ăngghen nêu trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, là: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”. Muốn vậy, mỗi người phải tự hoàn thiện, tự trau dồi tri thức khoa học. Vì tri thức khoa học giúp ta cách suy nghĩ đúng, còn tư duy lý luận dạy cho ta nghệ thuật vận dụng các khái niệm và phương pháp tư duy mềm dẻo, sáng tạo./.

TS. Nguyễn Văn Nghệ

P. Trưởng BM MLN & KHXHNV

tcsnd5.edu.vn
Ảnh tuyển chọn