• Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính
  • Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ
  • Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành
  • Đối với nhân dân, phải kính trọng lễ phép
  • Đối với công việc, phải tận tụy
  • Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo


truongbanbientap 3

  • Trong nước
  • Hoạt động trường
  • Giáo dục
  • Hoạt động ngành
  • Tin pháp luật
  • Quốc tế

Sau 13 ngày đàm phán căng thẳng với nhiều cuộc thương lượng kéo dài suốt đêm, vào lúc 1h30 ngày ...

12.14.2015
Read: 8552
  • Công tác hậu cần
  • Công tác đoàn thể
  • Công tác đảng
  • Xây dựng lực lượng
  • Dạy nghề
  • Bài viết về giáo dục
  • Quản lý học viên
  • Tuyển sinh
  • Đổi mới ND&PP dạy học
  • Quy định quy chế
  • Diễn đàn thanh niên
  • Gương sáng học viên
  • Rèn luyện
  • Học viên tình nguyện
  • CLB học viên
  • CLB giáo viên
  • Gương sáng CAND
  • Phương pháp GD hiện đại
  • Giáo viên điển hình tiên tiến

Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường tại các khu Công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

     Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của khu vực miền Trung – Tây Nguyên, với ưu thế riêng biệt, trong những năm gần đây, Quảng Nam thu hút hàng trăm doanh nghiệp vào đầu tư và hoạt động tại các khu công nghiệp (KCN) và cụm công nghiệp (CCN). Các KCN, CCN đi vào hoạt động không chỉ tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị, giải quyết việc làm cho người lao động và tăng nguồn thu cho ngân sách mà còn tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáng kể ở địa phương. Bên cạnh việc phát triển kinh tế, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường xảy ra tại các KCN, CCN cũng diễn biến hết sức phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đầu tư và môi trường sống của tỉnh.

     Trước tình hình đó, tỉnh đã chú trọng đến công tác xây dựng chính sách bảo vệ môi trường tại các khu vực này. Ban thường vụ tỉnh ủy đã đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) về "Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"; chỉ đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp các ngành liên quan sơ kết báo cáo 01 năm thực hiện Chỉ thị 29-CT/TW ngày 21-01-2009 của Ban Bí thư (Khóa X) về "Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị"; sơ kết 7 năm thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW. Bên cạnh đó, UBND tỉnh Quảng Nam cũng đã ban hành Quyết định số 44/2006/QĐ-UBND ngày 19/9/2006 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 26/2006/CT-UBND ngày 18/7/2006 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường ở các KCN, CCN trên địa bàn tỉnh.

     Tuy nhiên, dù đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong công tác bảo vệ môi trường theo phương châm "đi tắt đón đầu" nhưng tình tình tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường tại các KCN, CCN trên địa bàn tỉnh vẫn thường xuyên xảy ra. Theo Thanh tra Bộ Tài nguyên & Môi trường (TN&MT), sau khi tiến hành thanh tra 23 doanh nghiệp trên địa bàn Quảng Nam phát hiện có đến 18 doanh nghiệp vi phạm. Trong số 6 KCN kiểm tra mới có 2 KCN đầu tư hệ thống xử lý nước thải (KCN Điện Nam - Điện Ngọc và KCN Bắc Chu Lai); 48 CCN nhưng chỉ có 1 CCN có hệ thống xử lý nước thải (CNN Trường Xuân - Thành phố Tam Kỳ được tài trợ bởi nguồn vốn của Chính phủ Đan Mạch). Nhiều dự án đi vào hoạt động nhưng không có báo cáo đánh giá tác động môi trường. Thanh tra Bộ TN&MT cũng nêu hàng loạt vi phạm trong công tác bảo vệ môi trường, trong đó, nhiều doanh nghiệp phát sinh chất thải nguy hại vượt quá 15% so với đăng ký chủ nguồn thải nhưng không được chấn chỉnh kịp thời.

     Về phía địa phương, báo cáo của Sở TN&MT Quảng Nam cho thấy, phần lớn các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã thực hiện đầy đủ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại, thu gom và phân loại chất thải nguy hại tại cơ sở. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường chưa được kiểm soát triệt để, nhất là các quy định bắt buộc về môi trường đã bị bỏ qua. Qua khảo sát, nghiên cứu nhận thấy, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường xảy ra tại các KCN, CCN trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hiện nay xuất phát từ một số nguyên nhân cơ bản sau:

     Thứ nhất, thiếu nguồn tài chính tập trung cho các công trình xử lý môi trường. Các KCN, CCN chưa được đầu tư xây dựng đúng quy định và kịp thời về công tác bảo vệ môi trường, nhất là hệ thống xử lý nước thải tập trung nên môi trường một số nơi chưa được xử lý triệt để, việc đầu tư các bãi rác chôn lấp hợp vệ sinh, cải tạo môi trường các sông, hồ, xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung của các KCN, CCN còn chưa được chú trọng triển khai, thực hiện.

     Thứ hai, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường còn bộc lộ nhiều lỗ hổng, chính sách và hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường chưa được hoàn thiện, chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý các vi phạm pháp luật về môi trường trong khi lợi nhuận mà tội phạm môi trường mang lại rất lớn. Đây là kẽ hở để các đối tượng lợi dụng vi phạm pháp luật bất chấp việc phát hiện và xử lý của cơ quan chức năng.

     Thứ ba, công tác quản lý và giám sát, kiểm tra về xử lý môi trường của các ngành chức năng còn lỏng lẻo, chưa duy trì thường xuyên, hệ thống xử lý nước thải ở nhiều KCN và hầu hết các CCN còn thiếu. Một số KCN đã có hệ thống xử lý nước thải nhưng chưa đạt yêu cầu. Đa số các CCN cơ sở hạ tầng chưa được hoàn thiện, chưa lập hồ sơ về bảo vệ môi trường theo quy định. Nhiều KCN, CCN, cơ sở sản xuất, dịch vụ chưa thực hiện đúng quy định bảo vệ môi trường, xử lý chất thải, xả nước thải, khí thải, phát ra tiếng ồn vượt giới hạn cho phép. Nhiều cơ sở sản xuất công nghệ còn lạc hậu, chưa có đầu tư cải tạo, nâng cấp nên việc xử lý chất thải chưa đạt quy chuẩn về môi trường.

     Thứ tư, việc lựa chọn các phương pháp xử lý chất thải rắn theo công nghệ mới, hiện đại đòi hỏi chi phí đầu tư và vận hành cao trong khi cơ chế, chính sách chưa đủ mạnh để khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư, cải tạo, nâng cấp cơ sở, bổ sung thiết bị, công nghệ bảo vệ môi trường. Nguồn kinh phí sự nghiệp đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường còn thấp. Việc mở rộng hợp tác, thu hút đầu tư trên lĩnh vực bảo vệ môi trường còn hạn chế.

     Thứ năm, mặc dù hiện nay tỉnh Quảng Nam đang được các tổ chức nước ngoài tài trợ triển khai các dự án về môi trường nhưng chủ yếu vẫn là các dự án tăng cường năng lực cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường. Ngành công nghiệp môi trường của tỉnh Quảng Nam hầu như chưa phát triển. Hầu hết các công trình xử lý môi trường trên địa bàn tỉnh đều do các đơn vị ngoài tỉnh thực hiện (Hà Nội, Đà Nẵng, TP. HCM)

     Thứ sáu, một số văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn còn thiếu và bất cập, có sự chồng chéo giữa các văn bản pháp lý của Trung ương và địa phương, gây khó khăn trong triển khai thực hiện. Vấn đề bảo vệ môi trường trong KCN, CCN đã được đề cập nhiều trong các văn bản pháp luật nhưng đến nay nhiều nội dung vẫn chưa cụ thể, chưa phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm đối với các cơ quan chức năng liên quan.

     Thứ bảy, công tác phối hợp tuyên truyền về Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản liên quan chưa được đầu tư, đổi mới, chất lượng, hiệu quả còn hạn chế. Lực lượng tuyên truyền viên còn mỏng. Các chương trình phối hợp về bảo vệ môi trường mới dừng lại mức tuyên truyền, chưa trở thành phong trào quần chúng mạnh mẽ. Ý thức, trách nhiệm về bảo vệ môi trường của một bộ phận doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh còn hạn chế. Một số đơn vị chưa thực hiện tốt việc tổng kết Nghị quyết 41-NQ/TW và tuyên dương khen thưởng các tập thể, cá nhân theo chỉ đạo của tỉnh.

     Trên cơ sở thực trạng và nguyên nhân của thực trạng trên, trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đưa ra một số định hướng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường xảy ra tại các KCN, CCN trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới như sau:

     Một là, quán triệt sâu sắc quan điểm đã được Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng xác định "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường", đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường là đầu tư cho sự phát triển bền vững, phải được ưu tiên. Trong đó, gắn công tác bảo vệ môi trường với các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tranh thủ các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia của Trung ương, mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về công tác bảo vệ môi trường. Trong hoạch định chiến lược, định hướng phát triển kinh tế - xã hội, tranh thủ các nguồn vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế về môi trường để đầu tư trang thiết bị và hỗ trợ đầu tư cải thiện môi trường.

     Hai là, chủ động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về môi trường cho các doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN, CCN cũng như các doanh nghiệp thứ cấp để giúp các doanh nghiệp ý thức rõ ràng và đầy đủ trách nhiệm của mình đối với vấn đề bảo vệ môi trường trong và ngoài KCN, CCN. Các doanh nghiệp phải tìm ra các giải pháp tiết kiệm năng lượng, tuân thủ quản lý chặt chẽ theo quy định nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, cần tuyên truyền, đề cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đoàn thể và quần chúng nhân dân trong phòng ngừa, phát hiện, tố giác các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường để kịp thời có biện pháp ngăn chặn, xử lý.

     Ba là, cần cân nhắc trước khi đề xuất cho phép đầu tư đối với các dự án, công trình có nguy cơ gây tác động lớn đến môi trường. Tại các Ban quản lý các KCN, CCN cần được đánh giá tác động môi trường đối với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đề xuất danh mục từng loại hình đầu tư thích hợp và chấm dứt tình trạng dự án, công trình đi vào hoạt động rồi mới lập hồ sơ môi trường, đồng thời, ưu tiên những ngành công nghiệp sạch, ít ô nhiễm, đảm bảo cơ cấu ngành nghề phù hợp với khả năng và thực tế giải quyết ô nhiễm của địa phương; thu hút có trọng điểm để phát triển các ngành kinh tế chủ lực cũng như tạo điều kiện thuận lợi trong bố trí nhà máy, xây dựng phương án bảo vệ môi trường.

     Bốn là, thực hiện đúng phân cấp quản lý bảo vệ môi trường; tích cực, kiên quyết, kịp thời, đồng bộ và hiệu quả trong chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác bảo vệ môi trường. Rà soát và tiếp tục điều chỉnh, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc phân cấp quản lý môi trường theo hướng đẩy mạnh việc phân cấp, giao quyền và trách nhiệm trực tiếp về công tác bảo vệ môi trường cho các BQL các KCN. Các BQL phải được trao đầy đủ thẩm quyền và trách nhiệm liên quan đến bảo vệ môi trường trong KCN,

     Năm là, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh Quảng Nam cần phối hợp các cơ quan chức năng của tỉnh tăng cường công tác quản lý, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về môi trường tại các KCN, CCN. Tổ chức các đợt kiểm tra đột xuất nhằm phát hiện, xử lý kiên quyết các trường hợp vi phạm, ngăn chặn kịp thời các hành vi gây ô nhiễm môi trường...

     Sáu là, các ngành chức năng cần phối hợp đồng bộ trong công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh tại các KCN, CCN trên địa bàn của tỉnh và xử lý nghiêm các các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, buộc khắc phục kịp thời hậu quả gây ra, xem xét điều chỉnh các chế tài để đảm bảo tính răn đe đối với hành vi vi phạm pháp luật về môi trường.

     Bảy là, tăng cường công tác xã hội hoá về bảo vệ môi trường, phát huy chức năng giám sát của các tổ chức hội, đoàn thể nhân dân, cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ môi trường, thường xuyên lắng nghe ý kiến phản ảnh của nhân dân và báo chí để nắm nguồn tin, kịp thời kiểm tra xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

     Tám là, kiến nghị Quốc hội, Chính phủ có cơ chế chính sách ưu đãi cho các thành phần kinh tế tham gia công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là đầu tư xây dựng các công trình xử lý môi trường, công tác xử lý chất thải, hỗ trợ địa phương đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống xử lý nước thải tập trung ở các KCN, CCN, đồng thời, kêu gọi các tổ chức nước ngoài bên cạnh đầu tư các dự án tăng cường năng lực cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường cần tài trợ, triển khai các dự án về phát triển công nghiệp môi trường, xử lý chất thải.

     Chín là, đẩy mạnh hoạt động thi đua khen thưởng trong công tác bảo vệ môi trường KCN, CCN, có cơ chế, chính sách động viên kịp thời các doanh nghiệp, BQL KCN có sáng kiến, giải pháp, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong sản xuất, kinh doanh tại KCN, CCN.

Phạm Phú Tiến – Khoa CSKT

tcsnd5.edu.vn
Ảnh tuyển chọn